phan-tich-dong-chi-va-bai-tho-tieu-doi-xe-khong-kinh

1 Like comments off

Kho tài liệu văn học và bài tập làm văn hàng đầu Việt Nam

Phân tích ĐỒNG CHÍ và BÀI TH


baivanhayKho tài liệu văn học và bài tập làm văn hàng đầu Việt Nam

Phân tích ĐỒNG CHÍ và BÀI THƠ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Hà Anh
06/01/2022 Bài văn hay

508 Views

Phân tích ĐỒNG CHÍ và BÀI THƠ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNHKhông chỉ vậy, nhà thơ còn bắt gặp sự đồng cảm sâu sắc đối với […]

Hướng dẫn

Đề bài:

Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng (…) Nhưng văn học không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn

(SGK Ngữ văn 9 – Tập 2, Trang 15)

Phân tích hình tượng người lính trong hai bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu) và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật) để làm sáng tỏ nhận định trên.

Bài làm

“Nhà thơ tư duy bằng hình tượng” (Biêlinxki). Văn học ở bất kì thời đại nào muốn phản ánh hiện thực đời sống đều phải thông qua các hình tượng nhân vật điển hình. Nhà thơ tư duy bằng hình tượng, nhà văn cũng tư duy bằng hình tượng. Thế giới thêm sắc màu, cuộc sống thêm âm điệu bởi những hình tượng độc đáo. Nhưng đâu phải ngẫu nhiên mà đại thi hào Nguyễn Du trong biết bao tác phẩm đồ sộ của Trung Quốc lại chọn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tác phẩm không một tiếng vang của nhà văn, để tái tạo và chuyển sang thơ đầy sự sáng tạo và trở thành một kiệt tác văn học, vì chính trong tác phẩm ấy, nhà thơ đã bắt gặp một hiện thực xã hội Việt Nam đương thời biết bao bất công oan trái đã vùi dập thân phận người dân lương thiện xuống vũng lầy cuộc đời nghiệt ngã. Không chỉ vậy, nhà thơ còn bắt gặp sự đồng cảm sâu sắc đối với nhân vật Thúy Kiều. Điều đó cho ta thấy: “Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nhưng văn học không phản ánh thụ động, máy móc như một tấm gương mà thông qua tư tưởng tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn”. Và ta cũng bắt gặp điều này qua hình tượng người lính trong hai bài thớ “Đồng chí” của Chính Hữu và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.

Vậy chúng ta phải hiểu như thế nào về nhận định này? Trước hết, hình tượng là phương tiện của văn học để phản ánh hiện thực, đó là bức tranh sinh động về con người và cuộc sống. “Hình tượng văn học là sự tổng hợp những tư tưởng và say mê, là kết quả của một tấm lòng đầy thiết tha” (Biêlinxki). Hình tượng văn học không chỉ chứa đựng bức tranh sinh động của hiện thực cuộc sống, cung cấp đề tài để nhà văn tái hiện trong cuộc sống qua tác phẩm văn học để thông tin thẩm mỹ đến người đọc, mà còn biểu hiện tư tưởng ở cách nhìn, cách nghĩ, lý tưởng của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống. Các nhà văn, nhà thơ đã gởi gấm những tình cảm, tư tưởng và thái độ của mình trên đầu ngọn bút để mỗi ngôn từ là mỗi tiếng lòng, là nỗi niềm tâm sự sâu lắng. Nghĩa là vừa có tính chung sâu sắc, vừa mang tính riêng độc đáo. Lưu Quang Vũ trong bài thơ “Nói với mình và các bạn” đã viết:

“Thơ không phải là chứng minh

Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương!”


Bởi vậy phân tích hình tượng văn học là làm nổi bật vẻ đẹp con người, cuộc sống được thể hiện; qua đó, phát hiện sự đóng góp riêng của nhà văn trong việc chọn lựa các yếu tố để xây dựng hình tượng.

Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đều là những con người trưởng thành trong hàng ngũ quân đội. Thơ Chính Hữu thể hiện một cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Còn ở Phạm Tiến Duật, ta bắt gặp một hồn tho trẻ trung, sôi nổi, hồn nhiên, tinh nghịch nhưng rất sâu sắc. Trong hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã xây dựng nên một hình tượng người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ với những vẻ đẹp mộc mạc nhưng vô cùng dũng cảm. Là những nhà thơ quân đội trưởng thành trong những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật từng sống, trải nghiệm và thấm thía đời sống của người lính trên chiến trường. Trên đôi bàn tay của hai nhà thơ không chỉ vững vàng những cây súng đánh giặc mà còn từng bung nở cho đời những vần thơ diệu kì về người lính. Họ đã cùng khắc họa hình ảnh người lính trong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh với các phẩm chất đáng quí. Ta thấy ở họ có trái tim với một tình yêu nước cháy bỏng, cùng những lí tưởng cao đẹp, chiến đấu, hi sinh vì độc lập dân tộc như lời thơ của Lê Anh Xuân:

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.”

(Dáng đứng Việt Nam)














Không chỉ có tình yêu nước nồng nàn, ở những người lính còn có sự đoàn kết, gắn bó trong tình đồng chí, đồng đội keo sơn. Và đặc biệt hơn cả là sự dũng cảm, kiên cường vượt qua mọi gian khó, hiểm nguy để sống, chiến đấu và chiến thắng. Song trong mỗi bài thơ, các tác giả lại sử dụng ngòi bút sắc sảo để thể hiện sự phát hiện riêng về hình tượng người lính.

Trước hết, trong bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã thể hiện hình tượng người lính với những vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng chân thực cùng vẻ đẹp tâm hồn là tình cảm đồng chí, đồng đội thắm thiết và sự thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ của nhà thơ trước hoàn cảnh và tình cảm của người lính. Bài thơ đã làm nổi bật hình ảnh người chiến sĩ với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc của người nông dân mặc áo lính trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ đều là những người nông dân áo vải, xuất thân từ những vùng quê nghèo khó:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.


“Quê hương anh” và “Làng tôi” đều nghèo khổ, là nơi “nước mặn, đồng chua”, là xứ sở “đất cày lên sỏi đá”. Tác giả sử dụng phép sóng đôi đối ứng, mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn rau cắt rốn của anh lính. Họ là những người nông dân từ những vùng quê lam lũ nghèo đói, quanh năm chỉ biết đến con trâu, mảnh ruộng, nhưng các anh đã giã từ quê hương lên đường chiến đấu. Chính Hữu đã làm cho lời thơ bình dị, giọng điệu thơ thù thỉ tâm tình, làm toát lên cẻ mộc mạc của những người trai cày ra trận đánh giặc. Sự đồng cảnh, đồng cảm với nhau là cái gốc để hình thành tình bạn, tình đồng chí sau này. Những chàng Thạch Sanh của đất nước không chỉ có cũng một xuất thân, cùng một giai cấp, mà ở họ ta còn thấy được một sự chấp nhận cuộc sống quân ngũ đầy thiếu thốn:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

…..

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.






Kể sao kể xiết những gian khổ mà lính phải trải qua trong chiến đấu. Nói về cái gian khổ của người lính trong kháng chiến chống Pháp, ta nhỡ đến cái rét xé thịt da trong bài “Lên Cẩm Sơn” của Thôi Hữu:

“Cuộc đời gió bụi pha sương máu

Đợi rét bao lần xé thịt da

Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật

Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!

Lòng tôi xao xuyến tình thương xót

Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa”

Ta nhớ đến cái ác liệt của bệnh sốt rét trong “Tây Tiến” của Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.






























Ta cũng có thể thấy cái buốt giá của núi rừng Việt Bắc, cái ớn lạnh toát mồ hôi trong những câu thơ của Chính Hữu. Nhưng nếu như Thôi Hữu viết về cái rét xé thịt da để khắc họa những con người chấp nhận hi sinh “Đem thân xơ xác giữ sơn hà”, Quang Dũng nói đến sốt rét để tô đậm vẻ bi tráng của những người chiến sĩ thì Chính Hữu nói về cái ác nghiệt của sốt rét để miêu tả rõ nét cuộc sống chiến đấu gian khổ và sự gắn bó của đồng đội keo sơn. Sốt rét rừng trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của những người lính khi hành quân trong rừng. “Áo anh rách vai”, “Quần tôi có vài mảnh vá”, đó là hiện thực của những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, quần áo của người lính rách bươn, phải buộc túm lại nên người lính vệ quốc còn gọi là “vệ túm”.

Hình ảnh người lính của Chính Hữu còn hiện lên với những vẻ đẹp tình cảm, tâm hồn. Từ “đôi người xa lạ”, họ có cùng chung nhiệm vụ chiến đâu, chung lí tưởng, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, những người lính từ phương trời xa lạ đã về đây tụ hội trong hàng ngũ quân sự rồi thành “đôi tri kỉ”, về sau kết thành tình “đồng chí”. Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: “Anh với tôi đôi người xa lạ/Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Và sự nghiệp chung của dân tộc đã khiến người chiến sĩ xóa bỏ khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người:

“Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!”






Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu vai kề vai, súng bên súng, chia nhau gian khổ, nguy hiểm, đêm đắp chung một chiếc chăn chịu rét. “Súng bên súng” là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; “anh với tôi” cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc. “Đầu sát bên đầu” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao, nghĩa là có rất nhiều cái chung: “Không chỉ gần nhau về không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng” (“Đọc văn – Học văn” – Trần Đình Sử). Mục đích của họ tất cả là vì độc lập, tự do của Tổ quốc, những người lính đã gửi lại quê nhà tất cả:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Giang nhà không mặc kệ gió lung lay”.


Tấm lòng của họ đối với đất nước thật cảm động, khi giặc đến các anh đã gửi lại người bạn thân mảnh ruộng chưa cày, mặc kệ những gian nhà gió cuốn lung lay để ra đi. Nhưng nếu không có một tình yêu đất nước sâu nặng thì không thể có một thái độ ra “mặc kệ” để ra đi như vậy. Họ đã ra đi chiến đấu chỉ vì một lẽ giản dị: yêu nước. Tình yêu đất nước, ý thức dân tộc là máu thịt, là cuộc đời của họ. Nhưng khi ở nơi kháng chiến, người lính nông dân áo vải lại bận tâm lo lắng về mảnh ruộng chưa cày, với căn nhà bị gió lung lay:

“Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”

Chuyện làng quê có cổng gió, lũy tre làng, bờ ao, giếng nước… là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca:

“Giếng nước chưa kịp khử hết mùi phèn

Lòng ái ngại gót chân cô hàng xóm

Gió heo may thao thức chao cánh võng

Tiếng gà bộn bề nỗi nhớ gốc đa”.

(“Hương” – Hoàng Đức Chính)














Đó là nỗi nhớ không tên luôn thường trực trong người lính trẻ. Nhưng nỗi nhớ của người lính trong bài thơ “Đồng chí” lại là một nỗi nhớ hai chiều. Anh lính nhỡ về ruộng nương, nhớ ngôi nhà, nhớ giếng nước gốc đa; hay phải chăng chính giếng nước, gốc đa là người mẹ già, người vợ cùng đám con thơ đang trông mong ngóng chờ anh trở về. Có cả hai nỗi nhỡ ở hai phía chân trời, Và tình yêu quê hương ấy đã góp phần hình thành tình đồng chí, làm nên sức mạnh tình thần để người lính vượt qua mọi thử thách, gian lao, ác liệt thời máu lửa. Cũng nói về nỗi nhớ ấy, Hoàng Trung Thông đã viết trong bài thờ “Bao giờ trở lại”:

“Bấm tay tính buổi anh đi

Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về?

Lúc xanh xanh ngắt chân đê,

Anh đi là để giữ quê quán mình

Cây đa giếng nước sân đình

Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường”.


















Nổi bật trong bài thơ “Đồng chí” là tình cảm đồng chí, đồng đội thấm đẫm sự sẻ chia, thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc của tác giả. Tình đồng chí thật sự đã được nảy sinh từ nhiều điểm chung của những người “nông dân mặc áo lính”, họ cùng chung một xuất thân từ vùng quê nghèo khó, cùng lí tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc, để rồi trở thành một mối tình tri kỉ:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. Câu thơ giúp ta hiểu “đôi người xa lạ” ấy đã nảy nở một tình cảm, sự gặn kết không thể tách rời nhau – “đôi người tri kỉ”. Giọng thơ đang tuôn liền mặc, nhẹ nhàng thì bị ngắt nhịp đột ngột: “Đồng chí!”. Từ “đồng chí” được tách ra thành một câu riêng, gồm hai tiếng, một từ, một dấu chấm than; đó làm điểm sáng cao trào của bài thơ, là một phát hiện, một khẳng định và là bản lệ để khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí và mở ra biểu hiện tình đồng chí, đây còn là một mối quan hệ có ý nghĩa thời đại thiêng liêng bởi sau cách mạng tháng Tám, “đồng chí” trở thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội.

Tình đồng chí đã giúp người lính vượt lên mọi gian khổ. Họ cùng nhau chia sẻ sự thiếu thốn về quân tư trang “áo rách”, ‘quần vá”, “chân không giày”, cùng chịu đựng những cơn sốt rét “Sốt rung người vừng trán ướt mồ hôi”. Song trong những khó khăn, gian khổ, chi tiết “Miệng cười buốt giá”, mặc dù vẫn mang hơi thở của cái lạnh nhưng đã ấm lên, sáng lên tình đồng đội, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ; rồi đến những củ chỉ thể hiện tình cảm thầm lặng mà gắn bó của người lính: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. “Nắm lấy bàn tay” là truyền cho nhau hơi ấm, cho nhau sức mạnh, là sự cảm thông chia sẻ, là lời động viên âm thầm, là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, sưởi ấm, nâng đỡ những người lính cùng vượt qua những gian lao, thử thách của cuộc chiến. Cái nắm tay ấy thay cho mọi lời nói, và Chính Hứu đã phát hiện ra sức mạnh của tinh thần dựa trên cơ sở cảm thông và thấu hiểu sâu sắc, đã tạo nên chiều sâu và sự bền vững của thứ tình cảm thiêng liêng – tình đồng chí, đồng đội.

Không chỉ dừng lại ở cung bậc tình cảm giữa những người lính, bài thơ “Đồng chí” còn mang ta đến với vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn cao hơn ở cuối bài:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”






Người lính không còn cô đơn lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm lòng anh. Người chiên sĩ toàn tâm toàn ý hướng theo mũi súng. Chính lúc ấy, các anh bắt gặp một hiện tượng kì lạ:

“Đầu súng trăng treo”

Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật của của Chính Hữu qua bài thơ chính là hình ảnh này. Từ tình đồng chí, trải qua những thử thách khác nhau, Chính Hữu đã tạo nên cái nhìn đầy chất thơ. Nếu hai câu thơ trên không kết hợp với hình ảnh “đầu súng trăng treo” thì nó khó có những giá trị đặc sắc. Ngược lại, nếu không có sự nâng đỡ của của hai câu thơ đó thì hình ảnh sẽ bị coi là thi vị hoá cuộc sống chiến đấu người lính. Sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất thơ lãng mạn, bay bổng đã làm cho “đầu súng trăng treo” trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất thơ ca kháng chiến chống Pháp. Câu thơ chỉ vỏn vẹn bốn từ nhưng nó bao hàm cả cái tình, cái ý và đặc biệt là sự cảm nhận tinh tế của Chính Hữu. Nhờ sự liên tưởng thông minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bồng bềnh, huyền bí, khó tả. Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mĩ sâu sắc với người đọc, đồng thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca. “Đầu súng trăng treo” được xây dựng bằng bút pháp siêu thực, đầy chất thơ. Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” và đặc biệt là không gian “rừng hoang sương muối”; nó đã góp phần tô đẹp thêm hình tượng vầng trăng, cây súng. Hai hình ảnh này đối lập nhau rất rõ. Một bên là vầng trăng muôn thuở hấp dẫn và kì lạ, thanh bình với thi ca. Nó biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, đồng thời cũng là ước mơ cuộc sống tươi đẹp hòa bình hạnh phúc. Nhưng trăng ở đây lại được đặt trong mối quan hệ với súng. Một bên là súng, súng biểu tượng cho chiến tranh và cái chết nhưng súng cũng trở thành lí tưởng cao đẹp, tinh thần chiến đấu vì cuộc sống hòa bình dân tộc của người chiến sĩ. Trăng là vẻ đẹp lãng mạn, súng là hiện thực. Tuy đối lập, nhưng hai hình tượng này đã tôn thêm vẻ đẹp cho nhau, tạo nên vẻ đẹp hoàn mĩ nhất. Không phải ngẫu nhiên khi Chính Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ. Qua đó ông muốn khẳng định cái khát vọng về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ: để cho vầng trăng kia sáng mãi, trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, mọi người phải cầm súng chiến đấu. Có thể nói, hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là một phát hiện thú vị, mới lạ độc đáo của Chính Hữu. Chính hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo nên hình ảnh thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn. Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình, là biểu tượng cho tình thần dũng cảm, hào hoa muôn thuở của dân tộc nói chung và người lính nói riêng:

“Hồi còn nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ”.

(“Ánh trăng” – Nguyễn Duy)














Tóm lại, bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị, bình dân khi nói về đời sống vật chất của người chiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói về đời sống tâm hồn, về tình đồng chí của các anh – người lính binh nhì buổi đầu kháng chiến.

Chúng ta không chỉ bắt gặp hình tượng người lính trong thơ của Chính Hữu, mà hình tượng ấy cũng được Phạm Tiến Duật thể hiện trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Hình tượng người lính trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp dũng cảm, tinh nghịch, tình đồng đội gắn bó và tâm hồn phơi phới, sôi nổi, tinh nghịch, ngang tàng cùng tình cảm yêu quý, tự hào, gắn bó của nhà thơ đối với những người lính. Chân dung người lái xe Trường Sơn được tác giả khắc họa qua hình ảnh những chiếc xe không kính và một giọng thơ ngang tàng, trẻ trung, gần gũi. Cảm hứng về những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ ghi lại những khám phá của mình về vẻ đẹp của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ. Đó là tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, đó còn là lòng lạc quan, yêu đời, tình đồng chí đồng đội thắm thiết và lòng yêu nước nồng nàn, lý tưởng chiến đấu cao đẹp.


Cái nhìn lạc quan của người lính về sự ác liệt của chiến tranh được thể hiện rất rõ qua cách lý giải về những chiếc xe không kính:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.


Điệp từ “không” khiến câu thơ giãn ra, tạo nhịp điệu khoan thai, đặc biệt từ “rồi” khép lại câu thơ thứ hai đã làm nên một giọng điệu rất nhẹ. Người lính nói về những chiếc xe không kính chính là nói về cuộc chiến khốc liệt mà họ phải trải qua. Vậy mà người lính lái xe lại kể về tất cả những điều ấy bằng một giọng thản nhiên đến lạ lùng. Điều này cho thấy rất rõ cái nhìn bình thản của người lính về những mất mát của bom đạn mà kẻ thù đã gây ra. Đó là cái nhìn lạc quan của bản lĩnh anh hùng.

Phẩm chất anh hùng của một người lái xe Trường Sơn ngời sáng qua tư thế ung dung:


“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn trời, nhìn đất, nhìn thẳng”.


“Ung dung” là tư thế thoải mái, là tâm trạng bình thản và thái độ bình tĩnh, tự tin. Đặt vào hoàn cảnh chiến tranh ác liệt lại lái những chiếc xe không kính thì sự ung dung này chính là biểu hiện cho lòng dũng cảm của người lính lái xe. Điệp từ “nhìn” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ đã khắc họa lên tư thế hiên ngang của người lính. Tư thế ấy là một sự thách thức với bom đạn của kẻ thù. Phải chăng nhờ những chiếc xe không kính mà người lính mới có điều kiện bộc lộ phẩm chất anh hùng và nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao của mình. Miêu tả cảm giác của người lính khi lái những chiếc xe không kính, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã mở ra một thế giới tâm hồn phong phú, đẹp đẽ của họ:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái”.










Không còn kính chắn gió, người lái xe lại có cái thú vị là được tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài. Qua khung cửa không còn kính, không chỉ mặt đất mà cả bầu trời với “sao trời” và “cánh chim” cũng như “ùa vào buồng lái”. Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã miêu tả rất chính xác cái cảm giác mạnh và đột ngột khi ngồi trên chiếc xe không kính lao nhanh về phía trước. Nhịp thơ dồn dập, khỏe khoắn, vừa gợi cảm giác về tốc độ của tiểu đội xe không kính, vừa mở ra tâm trạng hồ hởi, háo hức của người lính trên đường ra trận. Với người chiến sỹ Trường Sơn “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Bởi niềm hạnh phúc lớn nhất là được có mặt trên trận tuyến đánh quân thù. Với những câu thơ này, Phạm Tiến Duật đã làm dậy khí thế của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ.

Cái nhìn của người lính lái xe vào thiên nhiên vũ trụ là cái nhìn đậm chất lãng mạn chỉ có ở những người can đảm, biết vượt lên những thử thách khốc liệt. Lái xe không kính không phải là không gặp những khó khăn nào là “Gió vào xoa mắt đắng”, rồi những thứ bên ngoài như quăng như quật vào người lái xe nhưng chủ yếu vẫn là cảm giác thú vị về thiên nhiên vũ trụ bỗng trở nên thật gần gũi. Hóa thân vào những người chiến sĩ lái xe, tác giả đã nhìn hiện thực chiến tranh bằng con mắt của người lính. Đó là cái nhìn lãng mạn, trẻ trung, yêu đời.

Trước những thách thức khốc liệt do những chiếc xe không kính mang lại, người lính đã tỏ thái độ bất chấp, coi thường hiểm nguy.

“Không có kính ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay thái trăm cây số nữa

Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi”.


























Hai khổ thơ đầy ắp những chi tiết hiện thực, đó là một kiểu hút thuốc “phì phèo” rất lính, rồi tiếng cười “ha ha” vô tư, sảng khoái, đó là “bụi phun”, “mưa tuôn”, “mưa xối”. Những chi tiết rất thực rất sống động ấy mà đưa ta đến cuộc sống gian khổ nhưng đầy ắp niềm vui và tiếng cười của những người lính trẻ. Hiện thực đời lính đã được Phạm Tiến Duật tái hiện bằng những câu thơ đậm chất văn xuôi và một giọng thơ ngang tàng, hồn nhiên rất lính.

Thực tế những bánh xe lăn là những gian khổ, những hiểm nguy. Đó là những thách thức rất thực mà những người lính lái xe không kính đã trải qua trên đường và chiến trường. Nhưng với họ, gian khổ chả có ý nghĩa gì. Điệp từ “ừ thì” và “chưa cần” đã làm bật lên thái độ thách thức, bất chấp hiểm nguy của người lái xe. Đây là thái độ của con người đứng cao hơn hoàn cảnh, coi thử thách là cơ hội để thể hiện mình. Không phải là người lính gồng mình lên để vượt qua gian khổ, mà các anh đã chiến thắng thử thách khốc liệt một cách hết sức nhẹ nhàng bằng tiếng cười “ha ha” đầy sảng khoái. Đó là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, chất chứa trong đó biết bao hồn nhiên, trong sáng tuổi trẻ. Bằng ống kính điện ảnh, nhà thơ đã ghi lại được những khoảnh khắc xúc động của tình đồng chí, đồng đội giữa những người lính Trường Sơn.

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.










Phạm Tiến Duật đã khéo léo đưa những chiếc xe không kính vào thơ để làm cơ sở nảy nở tình cảm giữa những người lính lái xe. Mới đầu chỉ là những chiếc xe không kính, nhưng về sau đã hợp thành cả một tiểu đội xe không kính. Từ “tiểu đội” cho ta hiểu rằng tình cảm giữa những người chiến sĩ lái xe trước hết là tình đồng đội giữa những con người cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Qua hình ảnh tiểu đội xe không kính, nhà thơ vừa gợi được sự ác liệt của chiến tranh, vừa tạo ra được tình huống để người lính lái xe bộc lộ tình đồng chí đồng đội.

Nhờ xe không có kính mà người lính dễ dàng giao lưu với nhau hơn. Không kính tưởng như thô sơ, hỏng hóc nhưng đến đây đã làm bật lên vẻ đẹp riêng của nó. Gặp nhau trên con đường Trường Sơn huyết mạch, người lính bắt tay nhau qua cửa kính vỡ như một cách bộc lộ tình cảm. Cái bắt tay nồng ấm tình đồng chí này không nhẹ nhàng như cái nắm tay giữa những người nông dân trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu mà có một cái gì đó thật mạnh mẽ và ngang tàng. Đây cái bắt tay này còn có cả những tiếng cười hồn nhiên trong sáng và cái sôi nổi của tuổi trẻ mang theo vào chiến trường.

Đầu tiên giữa những người lính lái xe chỉ là tình đồng đội giữa những người cùng một tiểu đội, về sau đã phát triển thành bạn bè và hơn thế nữa thành tình cảm gia đình.

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.”


Bếp Hoàng Cầm là bếp dã chiến do anh nuôi tên là Hoàng Cầm chế tạo ra. Đây là loại bếp được đặt sâu trong lòng đất để hạn chế sự tỏa khói, tránh bị địch phát hiện. Nhưng đi vào trang thơ Phạm Tiến Duật, cái bếp của người lính đã được “dựng giữa trời”, thật sừng sững, thật ngang tàng như thách thức kẻ thù. Trong thơ Phạm Tiến Duật, bếp hoàng cầm đã trở thành tín hiệu của sự sum họp, đoàn tụ. Ở nơi nào có bếp Hoàng Cầm là nơi đó có một gia đình lính, bởi theo họ “chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Câu thơ có giọng điệu rất dí dỏm và thoáng nụ cười hồn nhiên rất chất lính. Ở đây tác giả đã có một cách định nghĩa rất độc đáo về gia đình. Đối với những người lính lái xe, không nhất thiết phải chung huyết thống mà chỉ cần chung bát, chung đũa thì đã là gia đình rồi. Bát đũa bình thường giản dị mà đã trở thành vật thiêng liêng gắn kết tình cảm giữa những người lính xa nhà chỉ cần được quay quần xung quanh bếp Hoàng Cầm, cùng chia sẻ bữa cơm đạm bạc là họ đã được tận hưởng cảm giác ấm cùng của gia đình. Dường như với những người lính Trường Sơn, tình đồng chí đồng đội cũng đẹp đẽ, thiêng liêng chẳng khác nào tình cảm gia đình.

Lý tưởng chiến đấu cao đẹp và niềm tin vào chiến thắng của dân tộc ở người lính lái xe được thể hiện thật chân thành và xúc động trong những vần thơ giản dị.

“Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi lại đi trời xanh thêm”.


Tác giả đã miêu tả hết sức chân thực giấc ngủ của người lính lái xe. Giấc ngủ “chông chênh” vì đường xe chạy gập ghềnh, từ láy “chông chênh” đã góp phần tô đậm cuộc sống gian khổ của người lính Trường Sơn.

Câu thơ cuối ngắt nhịp 2/2/3 đã làm nên âm hưởng phơi phới. Đặc biệt điệp ngữ “lại đi” khiến câu thơ như một tiếng reo vui, chất chứa trong đó là bao nhiêu hồ hởi, háo hức của người lính lúc lên đường ra trận. Người lính hiểu mỗi chuyến xe vào chiến trường là để cho “trời xanh thêm”. Hình ảnh “trời xanh” là ẩn dụ cho hòa bình, cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cho ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đến đây lí tưởng chiến đấu của người lính Trường Sơn đã sáng ngời. Người chiến sĩ thấy “trời xanh thêm” là đã tin tưởng vào ngày chiến thắng đang đến gần, niềm tin ấy đã làm nên nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao cho cả tiểu đội xe không kính.

Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn kết đọng ở lòng yêu nước cháy bỏng và ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam:

“Không có kính, rồi xe không có đèn

…….

Chỉ cần trong xe có một trái tim..”






Điệp ngữ “không có” đã làm nên âm điệu nhanh, mạnh, khỏe khoắn, dồn dập cho cả đoạn thơ. Ta cảm nhận thấy trong nhịp điệu ấy khí thế khẩn trương, hối hả của những đoàn xe ra trận và cả sự ác liệt trong cuộc chiến. Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật liệt kê “không có kính”, đồng nghĩa với sự chồng chất những mất mát, hi sinh của người lính. Đến đây hình tượng những chiếc xe không kính đã phát triển ở mức cao hơn. Xe không chỉ “không có kính”, mà còn “không có đèn”, “không có mui xe”, chiếc xe đã trở lên hỏng hóc, méo mó và biến dạng như một thứ đồ phế thải.

Tưởng chừng xe không thể chạy được, nhưng thật kì diệu “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”. Đây là một điều bất ngờ, hơn thế nữa là những phi thường, là một sự bất chấp đầy thách thức. Tại sao lại có điều kì diệu ấy? Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã phát hiện rằng: “Chỉ cần trong xe có một trái tim” thì dù thế nào xe vẫn cứ chạy. Không có cách lí giải nào cụ thể và thuyết phục hơn thể “Chỉ cần” có nghĩa là yếu tố duy nhất để xe vẫn cứ chạy chính là trái tim người lính. Chỉ có trái tim quả cảm, giàu lòng yêu nước của người chiến sĩ lái xe thì có mọi khó khăn đã lùi lại phía sau. Đặc biệt nhà thơ đã phát hiện ra cả tiểu đội xe không kính vẫn chạy vì “miền Nam phía trước”, vì một nửa đất nước đang dưới gót giày xâm lược của đế quốc Mỹ. Ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của người lính Trường Sơn đến đây đã ngời sáng.

Đẹp nhất trong bài thơ là “trái tim” người lính. Hình ảnh này được đặt trong thể đối lập với ba cái “không”: “không kính”, “không đèn”, “không mui”. Đây chính là sự đối lập giữa cái ác liệt của cuộc chiến với tinh thần, khí phách, tấm lòng của người lính lái xe. Hình ảnh “trái tim” chính là hoán dụ cho người chiến sĩ Trường Sơn yêu nước dũng cảm. Với hình ảnh giàu ý nghĩa này, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã mở ra một góc nhìn mới cho hình tượng người lính lái xe không kính. Phải chăng “trái tim” là cội nguồn sức mạnh của cả tiểu đội xe không kính, gốc rễ phẩm chất anh hùng của người lính Trường Sơn. Từ hình ảnh “trái tim” cầm lái, nhà thơ đã khẳng định một chân lí của thời đại chống Mĩ, đó là sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là phương tiện, vũ khí mà là con người với trái tim yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường dũng cảm. Có thể nói hình ảnh “trái tim” đã làm bật lên chủ đề của bài thơ và làm ngời sáng vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời chống Mĩ.

Tóm lại, Bài thơ về Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc khắc hoạ hình tượng những chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn đầy gay go thử thách, một lực lượng tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Cả hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đều mang những nét nghệ thuật đặc sắc. Với “Đồng chí”, ngôn ngữ thơ thật hàm súc, mộc mạc nhu tiếng nói của người lính trong tâm sự, tâm tình. Tục ngữ, thành ngữ, ca dao được Chính Hữu vận dụng rất linh hoạt, tạo nên chất thơ dung dị, hồn nhiên, đậm dà. Sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và màu sắc lãng mạn chung đúc nên hồn thơ chiến sĩ. Còn với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật đã khéo léo đưa vào những chi tiết, hình ảnh đặc sắc cùng giọng điệu, ngôn từ và lối thơ văn xuôi khắc đậm hình tượng người lính. Mặc dù đều xây dựng hình tượng người lính trong những năm tháng chiến tranh nhưng hai nhà thơ không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà thơ.

Như vậy, nhận định “Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng (…) Nhưng văn học không phản ánh máy móc, thụ động như một tấm gương mà thông qua tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của từng nhà văn” là hoàn toàn đúng đắn. Nghệ sĩ là kẻ làm công việc “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Viết văn là một quá trình khai phá những vỉa quặng của cuộc đời nhưng mỗi thứ kim loại quý hiếm nhà văn tìm thấy lại lấp lánh một sắc màu riêng biệt. Có phải đó là sắc màu của những hình tượng nhân vật điển hình được nhà văn nhặt nhạnh ở cuộc đời, nhào nặn trong tư tưởng và đưa vào tác phẩm dưới lớp áo chủ quan độc đáo? Và Chính Hữu cùng Phạm Tiến Duật đã thể hiện xuất sắc điều đó, khiến bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” trở thành những bài thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam thời chống Pháp và chống Mỹ. Hai bài thơ đã kết thúc, hai tác giả cũng đã đi xa nhưng chừng nào độc giả chưa đánh mất đi bản năng của mình: sự rung động thì những bài thơ vẫn còn sống mãi. Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh mẽ hơn cả lịch sử.

Bài viết của Bùi Thanh Mai – thành viên nhóm Những bài văn hay.

Tham khảo các bài văn mẫu lớp nâng cao tại chuyên mục: https://thichvanhoc.com.vn/van-mau/nang-cao/

Theo Baivanhay.com

Tags Ánh trăng Bài thơ về tiểu đội xe không kính Cảm nhận cây đa chiến thắng chiến tranh Chính Hữu cơ hội con đường con người con trâu cuộc sống dũng cảm đại thi hào Nguyễn Du Đồng chí gia đình hàng xóm hanh phuc hòa bình Hoàng Cầm khát vọng lí tưởng lời nói lòng dũng cảm lòng yêu nước Lưu Quang Vũ mục đích nam cao ngôi nhà người mẹ nguyễn du Nguyễn Duy nhà thơ Tố Hữu niềm tin Phạm Tiến Duật phân tích Quang Dũng quê hương Tây Tiến Thạch Sanh thế hệ trẻ tình bạn tình cảm gia đình tinh thần dũng cảm tình yêu tình yêu đất nước tố hữu tự tin Tuổi trẻ ước mơ văn học Việt Bắc ý chí y tá

22/01/2022

22/01/2022

22/01/2022

06/01/2022

06/01/2022

06/01/2022

Cảm nhận của em về đoạn trích Trao duyên

Cảm nhận của em về đoạn trích Trao duyên Bài làm Nguyên bản của Truyện …

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *